Những bài thơ chúc Tết năm Hợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

01/02/2019 14:55 Số lượt xem: 185

Kể từ mùa xuân đầu tiên trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước đến trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại 22 bài thơ chúc Tết, bài thơ nào cũng chan chứa tình cảm nồng ấm của Người dành cho đồng bào, Tổ quốc, là âm vang của những sự kiện chính trị lớn trong năm qua và những hy vọng, quyết tâm vào một mùa xuân mới.

Bài thơ chúc Tết đầu tiên của Bác là bài Mừng xuân 1942 với những câu: Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi, Năm cũ qua rồi chúc năm mới, Chúc phe xâm lược sẽ diệt vong! Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi! Chúc đồng bào ta đoàn kết mau! Chúc Việt Minh ta càng tấn tới! Chúc toàn quốc ta trong năm này! Cờ đỏ ngôi sao bay phất phới! Năm này là năm rất vẻ vang, Cách mệnh thành công khắp thế giới! Và bài thơ chúc Tết cuối cùng Người viết vào mùa xuân Kỷ Dậu (1969) với những vần thơ mang tính dự báo thiên tài: Năm qua thắng lợi vẻ vang/ Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to/ Vì độc lập, vì tự do/ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào/ Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào/ Bắc - Nam sum họp Xuân nào vui hơn).

Bác để tình thương cho chúng con!

Trong số 22 bài thơ xuân chúc Tết, có hai bài Bác viết vào năm Hợi, đó là Tết năm Đinh Hợi (1947) và Kỷ Hợi (1959). Bài thơ chúc Tết năm Đinh Hợi được đánh giá là một trong những bài thơ chúc Tết hay nhất của Người. Những câu thơ hào sảng vang lên như một áng hùng văn, một khúc ca chiến đấu và chiến thắng:

Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió

Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông

Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến

Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng

Tiến lên chiến sỹ, tiến lên đồng bào

Sức ta đã mạnh, người ta đã đông

Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi

Thống nhất độc lập, nhất định thành công!

Tết Đinh Hợi (1947) là cái Tết đáng nhớ đối với Bác và toàn thể đồng bào. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đối diện với bao khó khăn, thách thức. Nền hòa bình, độc lập chưa được bao lâu, toàn dân lại phải bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống lại âm mưu và dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp. Năm 1947, Hồ Chủ tịch và các cơ quan đầu não của Chính phủ rời thủ đô Hà Nội lên Việt Bắc xây dựng căn cứ địa kháng chiến. Trong bộn bề công việc, tại căn nhà đơn sơ nơi chiến khu Việt Bắc, Người đã viết bài thơ xuân trong năm kháng chiến đầu tiên gửi đến đồng bào trong niềm hân hoan đón Tết cổ truyền

Chiều 30 Tết (tức ngày 20/1/1947), sau bữa cơm trộn sắn ở xã Cần Kiệm, Bác đến một địa điểm thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai dự phiên họp tất niên của Hội đồng Chính phủ. Cùng đi với Bác có đồng chí Vũ Kỳ, thư ký và đồng chí Hoàng Hữu Kháng đội trưởng đội bảo vệ. Họp Hội đồng Chính phủ, bàn những công việc cấp bách của kháng chiến, đến 22 giờ 30 phút, Bác lên đường tới Đài Tiếng nói Việt Nam đặt tại chùa Trầm, thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Đông (nay là Hà Nội) để đọc thư chúc Tết đồng bào. Trong thời khắc thiêng liêng chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, giọng đọc trầm ấm của Người vang lên trên cánh sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam, truyền đi những thông điệp mang tính lịch sử và chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc.

Bài thơ chúc Tết năm Đinh Hợi mang tính chất của lời kêu gọi đã chạm và đánh thức trái tim của hàng triệu đồng bào với tình yêu quê hương đất nước sâu nặng. Những hình ảnh cờ đỏ sao vàng tung bay, âm thanh rộn rã của tiếng kèn xung trận mở ra không khí sục sôi của cuộc kháng chiến mới bắt đầu với tinh thần, ý chí quyết tâm của toàn dân tộc, quyết đánh thắng giặc ngoại xâm để gìn giữ nền hòa bình, độc lập dân tộc. Lồng vào trong thơ xuân chúc Tết, Người nhận định cuộc chiến mới là “trường kỳ gian khổ”, phải thực hiện tốt phương châm, tính chất “toàn dân, toàn diện” kháng chiến, cả nước đồng sức, đồng lòng, quyết tâm hiệp lực đứng lên đánh giặc giữ nước. Với thể thơ 8 chữ, 8 câu, đăng đối hài hòa, câu sau sóng bước với câu trước tạo nhịp nhanh mạnh, nói lên ý chí, khát vọng mãnh liệt của toàn dân tộc trong cuộc chiến đầy cam go, thử thách khốc liệt.

Hai câu thơ cuối khẳng định niềm tin sắt son, mãnh liệt của Người vào tương lai tất thắng của cách mạng, của khí phách, bản lĩnh và tâm hồn người Việt: Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi / Thống nhất độc lập, nhất định thành công! Những câu thơ chúc Tết năm Đinh Hợi đã trở thành khẩu hiệu tuyên truyền, là mệnh lệnh của kháng chiến, có sức lan tỏa sâu rộng, tạo sức mạnh và động lực to lớn để cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) chấn động địa cầu. Cảm nhận về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ chúc Tết năm Đinh Hợi, nhà phê bình văn học Hoài Thanh nhấn mạnh: “Cả bài thơ phơi phới như buồm căng thẳng gió. Nó là lời của một lòng tin vững chắc, của một người đang chiến thắng”. Còn nhà thơ Chế Lan Viên thì nhận xét: “Hãy thử đọc lại cả bài. Nghe như có thế chuyển động của cả lịch sử, núi sông trong ấy”.

Như vậy, Tết Đinh Hợi không chỉ có ý nghĩa đặc biệt với Bác mà với toàn thể đồng bào. Những vần thơ ấm áp vang lên trong ngày xuân đón Tết càng có ý nghĩa lớn lao, khắc sâu vào tâm khảm những người dân Việt sẽ cùng nhau đồng tâm nhất trí, sắt son đoàn kết dưới ngọn cờ hồng, cùng Đảng, Bác Hồ mang lại những mùa xuân mới tự do, độc lập, đầm ấm, hạnh phúc, yên vui.

Một bài thơ chúc Tết năm Hợi nữa của Người là bài thơ năm Kỷ Hợi (1959). Thời khắc năm 1959, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, nhân dân miền Bắc vừa ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, vừa hăng hái thi đua lao động sản xuất, cải tạo công thương nghiệp, phấn đấu lập nhiều thành tích, tạo đà để xây dựng thành công CNXH, trở thành hậu phương vững chắc của miền Nam. Ở miền Nam, nhân dân bước vào cuộc chiến mới chống lại âm mưu chia cắt, thống trị của bọn Mỹ - Diệm, cùng miền Bắc quyết tâm đấu tranh đánh thắng giặc Mỹ xâm lược để thống nhất đất nước.

Vào dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 1959, Người dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng ta sang dự Đại hội lần thứ XXI Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong thời khắc giao thừa, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi lời Người chúc Tết:

Chúc mừng đồng bào năm mới,

Đoàn kết thi đua tiến tới,

Hoàn thành kế hoạch ba năm,

Thống nhất nước nhà thắng lợi.

Bài thơ gói gọn trong 24 tiếng, ngắn gọn, súc tích nhưng đã nói lên được không khí, nhiệm vụ tình hình cách mạng ở hai miền Nam - Bắc: Hoàn thành kế hoạch 3 năm và đấu tranh thống nhất đất nước.

Hoàn thành kế hoạch 3 năm là nhiệm vụ trọng tâm của quân dân miền Bắc (từ năm 1958 đến 1960), trong đó phải đẩy mạnh sản xuất về công nghiệp, nông nghiệp và phát triển văn hóa. Tại Đại hội lần thứ XXI của Đảng Cộng sản Liên Xô, trong “Lời chúc mừng” ngày 29/1/1959, Bác thông tin về tình hình đất nước: “Hiện nay, chúng tôi đang ra sức thực hiện kế hoạch Nhà nước 3 năm (1958-1960) phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, phát triển văn hóa nhằm nâng cao dần đời sống của nhân dân. Nhiệm vụ cơ bản của chúng tôi ở miền Bắc Việt Nam hiện nay là phải đẩy mạnh công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa: Trước mắt là đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa, đồng thời ra sức củng cố và phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, lực lượng lãnh đạo của nền kinh tế quốc dân… Nhiệm vụ và mục tiêu phấn đấu của nhân dân Việt Nam hiện nay là hoàn thành thắng lợi kế hoạch Nhà nước 3 năm, củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ”.

Khi đến thăm cán bộ và sinh viên Việt Nam đang công tác và học tập ở Mátxcơva, ngày l-2-1959, Bác giải thích về đấu tranh thống nhất: “Các cô, các chú, các cháu hay hỏi bao giờ thì thống nhất. Câu ấy khó trả lời mà cũng rất dễ trả lời. Nếu hỏi ngày nào, tháng nào thống nhất thì khó. Nhưng nhất định thống nhất. Trước đây, kháng chiến, đánh bại kẻ địch lúc chúng đang mạnh hơn ta. Vậy mà ta thắng lợi… Bây giờ ta mạnh, ta càng nhất định thắng lợi, miễn là ta cùng đoàn kết và quan tâm. Muốn thống nhất nhanh thì mọi người phải làm trọn và làm vượt mọi nhiệm vụ giao cho mình. Ai ai cũng làm được như thế về cả ba mặt: chính trị, kinh tế, đoàn kết thì ta thắng, địch thua, mà ta thắng, địch thua là thống nhất được”.

Nhiệm vụ thống nhất đất nước là nhiệm vụ cao cả, lớn lao mà cả dân tộc ra sức thực hiện. Để đạt được sứ mệnh thiêng liêng ấy, cần có tiềm lực mạnh về lực lượng, vật chất, hậu phương vững chắc và ý chí, quyết tâm mãnh liệt của quân, dân hai miền.

Năm 1959 cũng là năm Người phát động Tết trồng cây, mở ra phong trào thi đua thiết thực để làm cho đất nước ngày càng tươi đẹp hơn, người dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được thừa hưởng bầu không khí trong lành, môi trường cảnh quan xanh - sạch - đẹp, để từ đó lại có nhiều cống hiến cho đất nước bằng những hành động giản dị, thiết thực mà đầy ý nghĩa.

Nhớ Bác, lòng ta trong sáng hơn

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi dịp Tết đến xuân về đều đem đến cho Người những xúc cảm thiêng liêng với niềm nhớ thương gia đình, quê hương, đất nước; thương những người dân cần lao, những chiến sĩ, du kích, dân quân dũng cảm, vì điều kiện hoàn cảnh đất nước trong chiến tranh nên khát vọng về cái Tết đoàn viên, đầm ấm, sum vầy bên người thân đành phải gác lại. Vì thế mỗi lần nghe Bác chúc Tết ai nấy đều rưng rưng xúc động, lòng dặn lòng phải quyết tâm, nỗ lực, cố gắng hơn nữa để đem về cho đất nước những mùa xuân tươi đẹp, sạch bóng quân thù.

Xuân Kỷ Hợi - 2019 gợi nhắc nhiều kỷ niệm về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu (108 năm Người ra đi tìm đường cứu nước, năm Tân Hợi - 1911; 50 năm Người đi xa) và đặc biệt những bài thơ chúc Tết năm Hợi mang ý nghĩa lịch sử của Người. Tết đến, xuân về trong niềm vui chung của dân tộc trước những thành quả trên mặt trận kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, ta càng nhớ những lời căn dặn và mong ước của Người trong những bài thơ xuân với khát vọng về đất nước độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Ngày xuân, đọc lại thơ chúc Tết của Người để thấy những bước đường gian khổ mà vinh quang của dân tộc, tiếp thêm cho ta sức mạnh để cống hiến, góp phần tô đẹp thêm những mùa xuân tương lai của đất nước luôn tươi sáng, đầm ấm, hạnh phúc, an vui./.

BBT