Kinh tế xã hội huyện Quế Võ 2015

22/01/2016 06:26 Số lượt xem: 3150

KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN QUẾ VÕ NĂM 2015

Tổng sản phẩm trên địa bàn GRDP (giá so sánh năm 2010) năm 2015 ước đạt 4.872,58 tỷ đồng; Chỉ số phát triển ước đạt 8,6%, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 1,6%; công nghiệp - xây dựng tăng 13,6%; dịch vụ tăng 6,8%.

- Tỷ trọng cơ cấu GRDP:

+ Nông, lâm nghiệp, thủy sản:  21,0 %

+ Công nghiệp - Xây dựng cơ bản:  43,1 %

+ Thương mại dịch vụ:  35,9 %

- Tổng giá trị sản xuất: 18.557,94 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010).

- Tổng giá trị tăng thêm bình quân đầu người (giá hiện hành) 34,4 triệu đồng/người/năm tương đương 1.638 USD/người/năm.

- Tổng sản lượng lương thực có hạt 91.400 tấn, tăng 1.068 tấn so với năm 2014.

- Giá trị một ha canh tác đạt 108,8 triệu đồng/năm (Giá hiện hành).

- Giải quyết việc làm mới cho 2.910 lao động.

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3%.

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,08%.

- Toàn huyện có 97/111 làng đạt danh hiệu Làng văn hóa (đạt 87,39%), tăng 21 làng, khu phố so với năm 2014; 34.645/38.737 số gia đình đạt danh hiệu Gia đình văn hóa (đạt 89,14%). 98/124 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa (đạt 79,03%).

- Xếp loại chính quyền xã, thị trấn: 18/21 đơn vị đạt vững mạnh (tăng 01 đơn vị so với cùng kỳ 2014), 03/21 đơn vị đạt khá.

- Xếp loại các cơ quan, đơn vị thuộc UBND huyện:

+ 12/12 cơ quan chuyên môn đạt trong sạch vững mạnh.

+ 04/06 đơn vị sự nghiệp đạt trong sạch vững mạnh, 02/06 đơn vị đạt khá.

I. Lĩnh vực kinh tế

1. Nông, lâm nghiệp, thủy sản

Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt: 1.502,45 tỷ đồng (giá so sánh 2010) tương đương 1.842,39 tỷ đồng giá hiện hành, tăng 2,48% so với cùng kỳ năm 2014.

Nông nghiệp:

Giá trị sản xuất nông nghiệp ước đạt 1.294,69 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 2,14% so cùng kỳ năm 2014.

Diện tích gieo trồng cả năm 18.000 ha, trong đó lúa 14.000 ha, cây thực phẩm 2.600 ha. Hệ số sử dụng đất 2,33 lần; năng suất lúa bình quân đạt 64,75 tạ/ha, tăng 1,75 tạ/ha so với năm 2014; giá trị một ha canh tác đạt 108,8 triệu đồng/năm (Giá hiện hành).

Huyện đã triển khai Đề án thí điểm tổ chức sản xuất tích tụ ruộng đất, xây dựng một số mô hình tích tụ ruộng đất sản xuất lúa thành cánh đồng mẫu lớn như: Mô hình lúa Thiên ưu 8 tại 04 điểm tập trung là Thị Thôn (Hán Quảng), Giang Liễu (Phương Liễu), Trúc Ổ, Mộ đạo (Mộ Đạo) với diện tích 100 ha và một số mô hình tích tụ sản xuất lúa tại các xã Chi Lăng, Hán Quảng, Yên Giả,… với diện tích quy hoạch một mô hình từ 05 ha trở lên. Mô hình sản xuất khoai tây xuân 10 ha tại xã Chi Lăng, Hán Quảng. Tiến hành xây dựng nhãn hiệu tập thể  khoai tây Quế Võ.

Công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật được quan tâm, trong năm đã mở 46 lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, với hơn 3.220 lượt người tham gia; Giá trị ngành trồng trọt ước đạt 738,53 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 1,58% so cùng kỳ năm 2014.

Lĩnh vực chăn nuôi, thủy sản:

Tổng đàn vật nuôi trong năm 2015: Đàn bò 14.500 con, tăng 5,84%; đàn trâu 800 con, tăng 12,99%; đàn lợn 70.550 con, tăng 1,81%; gia cầm 750.000 con, tăng 9,79% so với cùng kỳ năm 2014. Tổng sản lượng thịt hơi các loại đạt 15.035,8 tấn, tăng 8,88% so với cùng kỳ năm 2014. Giá trị ngành chăn nuôi ước đạt 481,1 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 2,91% so cùng kỳ năm 2014.

Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản toàn huyện duy trì ổn định 1.019 ha. Sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thủy sản ước đạt 6.729 tấn, tăng 56 tấn so với cùng kỳ năm 2014. Giá trị ngành thuỷ sản đạt 204,5 tỷ đồng (giá so sánh 2010), đạt 261,2 tỷ đồng giá hiện hành, tăng 4,71% so với năm 2014.

Dịch vụ nông nghiệp và quản lý hợp tác xã:

Toàn huyện có 124 HTX nông nghiệp (tăng 01 HTX so với cùng kỳ năm 2014), trong đó có 104 HTX dịch vụ nông nghiệp, 2 HTX trồng trọt, 4 HTX thủy sản, 9 HTX tổng hợp VAC, 5 HTX chuyên ngành khác. Các HTX hoạt động tốt theo luật HTX, góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của huyện. Giá trị dịch vụ nông nghiệp ước đạt 75,060 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 2,82% so cùng kỳ năm 2014.

Sản xuất lâm nghiệp:

Toàn huyện trồng được 2,65 ha rừng hỗn giao, gồm các loại: Keo, thông, lát, muồng, lim... trong đó 1,05 ha rừng (bước 1) tại thôn Cựu Tự (Ngọc Xá) và 1,6 ha rừng (bước 2) tại Thành Dền (Đào Viên). Thực hiện tốt công tác chăm sóc và bảo vệ 128,6 ha rừng hiện có.

Giá trị ngành lâm nghiệp ước đạt 3,260 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 0,71% so cùng kỳ năm 2014.

2. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng kết cấu hạ tầng

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:

Giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp - xây dựng năm 2015 ước đạt 14.977 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 20,2% so với thực hiện năm 2014; Riêng công nghiệp ước đạt 13.791 tỷ đồng (giá so sánh 2010), tăng 20,62% so với thực hiện năm 2014.

Xây dựng kết cấu hạ tầng:

Công tác thuỷ lợi và phòng chống thiên tai được quan tâm đầu tư: Tổ chức giải phóng mặt bằng dự án nạo vét kênh tiêu KĐ2, KĐ7. Xây dựng kế hoạch nạo vét tuyến kênh tiêu Yên Đinh, kênh tiêu trạm bơm Chợ lãng, kênh tiêu KĐ 5. Hoàn thành kế hoạch đắp đất dự phòng 4.750 m3, đạt 100% kế hoạch. Xây dựng, triển khai kế hoạch phòng chống thiên tai năm 2015. Rà soát, xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch xử lý vi phạm Luật đê điều, vi phạm Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, kết quả xử lý đựoc 111/ 220 vi phạm đê điều và công trình thuỷ lợi.

Lĩnh vực giao thông - xây dựng: Việc đầu tư xây dựng mới, cải tạo và nâng cấp các tuyến đường giao thông nông thôn trên địa bàn được chú trọng. Trong năm toàn huyện làm mới được 20,5 km đường bê tông xi măng, giá trị đạt 45,8 tỷ đồng. UBND huyện đã chỉ đạo các ngành, các địa phương rà soát, tổng hợp số liệu về các tuyến đường trục huyện, trục xã bị xuống cấp, hư hỏng để có kế hoạch đầu tư xây dựng.

Tổ chức chỉ đạo, triển khai xây dựng một số công trình trọng điểm như: Xây mới trường Mầm non Liên cơ, trường Tiểu học Việt Hùng số 2, trạm y tế Bồng Lai, trạm y tế Ngọc Xá, đường GT 279 đi Bằng An, đường GT Đại xuân đi Phương Liễu, cải tạo nhà làm việc HĐND-UBND huyện, cải tạo trụ sở nhà làm việc liên cơ quan và trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện,... Thực hiện tốt công tác cấp phép xây dựng theo thẩm quyền cho 47 hộ dân với 13.466m2 sàn, đảm bảo các chỉ giới, mốc giới xây dựng và hành lang giao thông, làm tốt công tác kiểm tra trật tự xây dựng; phát hiện và lập biên bản yêu cầu ngừng thi công đối với 12 trường hợp vi phạm trật tự xây dựng, trong đó có 4 trường hợp ra quyết định đình chỉ xây dựng, đối với các hộ vi phạm khác đã chấp hành khắc phục các sai phạm, xử phạt hành chính 03 trường hợp với số tiền là 75 triệu đồng, chỉ đạo tháo dỡ 10 ki ốt xây dựng trái phép tại xã Phương Liễu.

Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt nhiệm vụ cắm mốc quy hoạch cho 20/20 xã; cắm mốc giới đồ án Quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới xã Phượng Mao và cắm mốc giới đồ án Quy hoạch chung xây dựng nông thôn mới cho 19 xã theo đúng kế hoạch.

Tổ chức kiểm tra chất lượng công trình cho 03 công trình và kiểm tra đưa vào sử dụng 10 công trình cho các công trình trường học và đường GTNT….

Giá trị sản xuất ngành xây dựng ước đạt 1.330 tỷ đồng (giá hiện hành) tăng 3,1% so với năm 2014.

3. Thương mại dịch vụ và quản lý thị trường

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn ước đạt 2.415 tỷ đồng (theo giá hiện hành), tăng 10,88% so với cùng kỳ năm 2014.

Giá trị sản xuất khu vực dịch vụ ước đạt 2.078,49 tỷ đồng (giá SS 2010) tương đương 2.178,03 tỷ đồng giá hiện hành, tăng 8,87% so với cùng kỳ năm 2014.

Công tác quản lý thị trường chống buôn lậu và gian lận thương mại được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trật tự kinh doanh và chống đầu cơ tăng giá trên địa bàn huyện. Dịch vụ nông nghiệp tiếp tục được phát triển rộng khắp đã góp phần bảo đảm được nước, phân bón, vật tư, giống cây trồng, vật nuôi được cung ứng thuận tiện đến từng hộ nông dân.

4. Tài nguyên và môi trường

Công tác lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) được quan tâm. Hiện nay, đã xây dựng kế hoạch điều chỉnh quy hoạch đất của huyện; tổng hợp đăng ký nhu cầu sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của các xã, thị trấn trên địa bàn.

Thực hiện công tác kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015 trên địa bàn huyện. Hoàn thiện hồ sơ thu hồi đất và giao đất, cho thuê đất 06 dự án, với diện tích 2,55 ha: Dự án cải tạo, nâng cấp TL279 đoạn Phố Mới - Chợ Chì (khu vực hiệu sách Quế Võ); dự án giao đất cho xí nghiệp Tân Tiến (xã Đại Xuân) với diện tích 0,29 ha; dự án thu hồi đất xây dựng trường Mầm non xã Chi Lăng, diện tích 0,37 ha,.... Tổ chức thẩm định và xét duyệt 25 lô đất ở theo hình thức đấu giá và định giá với diện tích 2.408,45 m2; giao đất trên thực địa 23 lô, diện tích 2.317,25m2.

Công tác cấp giấy chứng nhận QSD đất có nhiều chuyển biến. Tổng số hồ sơ thực hiện xong là 2.170 hồ sơ. Trong đó đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất lần đầu 335 hồ sơ. Hồ sơ theo hướng dẫn 04/LN 378 hồ sơ (có 145 hồ sơ của năm 2014 chuyển sang). Đăng ký cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 175 hồ sơ. Đăng ký biến động quyền sử dụng đất 972 hồ sơ. Xác nhận thay đổi vào giấy chứng nhận đã cấp 310 hồ sơ. Đăng ký biến động quyền sử dụng đất 328 hồ sơ.

Công tác môi trường được quan tâm thực hiện, chỉ đạo các địa phương thực hiện việc thu gom vận chuyển rác thải về bãi xử lý tập trung của tỉnh. Thẩm định và xác nhận 10 bản cam kết bảo vệ môi trường. Chỉ đạo thực hiện tốt công tác thu gom vận chuyển rác thải sinh hoạt nông thôn.

Công tác quản lý khoáng sản, tài nguyên nước được tăng cường. Chỉ đạo đội liên ngành của huyện thường xuyên kiểm tra, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các trường hợp vi phạm khai thác cát sỏi lòng sông, trong đó đã bắt giữ 10 tàu, thuyền, lập biên bản xử phạt hành chính, thu nộp kho bạc nhà nước huyện 315,75 triệu đồng.

5. Tài chính - Kho bạc - Ngân hàng

* Tài chính: Chỉ đạo các cơ quan đơn vị thực hiện tốt quản lý ngân sách theo đúng quy định và thực hiện thu, chi đúng dự toán đã được HĐND phê duyệt.

Thu ngân sách đạt kết quả khả quan và dự báo sẽ hoàn thành kế hoạch cả năm, ước thực hiện thu ngân sách trên địa bàn đạt 181,784 tỷ đồng, tăng 37,41% so với cùng kỳ năm trước.

Ước thực hiện chi ngân sách địa phương đạt 632,943 tỷ đồng, tăng 40,55% so cùng kỳ năm 2014. Nhìn chung, các cấp, các ngành chấp hành chi trong dự toán ngân sách được giao, đảm bảo chi thực hiện đúng Luật ngân sách và các chế độ chính sách hiện hành.

* Kho bạc - Ngân hàng: Hoạt động ngân hàng, kho bạc cơ bản đã đáp ứng nhu cầu lưu thông tiền tệ, thực hiện chế độ điều tiết ngân sách cho các cấp đảm bảo theo đúng luật định. Kiểm soát chi chặt chẽ đã góp phần thực hành tiết kiệm và kiềm chế lạm phát.

Hệ thống các ngân hàng nhà nước đã bám sát định hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện để đầu tư tín dụng có hiệu quả, tổng thu tiền mặt qua quỹ ngân hàng tăng 6,22% so với cùng kỳ năm 2014, đạt 2.646,9 tỷ đồng; Chi tiền mặt qua quỹ ngân hàng tăng 6,02% so với năm 2014, đạt 2.638,6 tỷ đồng; trong đó; Huy động tại địa phương tăng 20,36% so với cùng kỳ năm 2014, đạt 439,3tỷ đồng; Dư nợ, cho vay các loại hình NHNN tăng 6,42% so với cùng kỳ năm 2014, đạt 415 tỷ đồng: trong đó dư nợ ngân hàng chính sách tăng 2,19% so với cùng kỳ năm 2014, đạt 223 tỷ đồng; Cho vay hộ nghèo NH chính sách 63,1 tỷ đồng.

II. Lĩnh vực văn hoá xã hội

1. Giáo dục và đào tạo

Quy mô, mạng lưới trường lớp học ổn định, củng cố vững chắc kết quả phổ cập ở các cấp học. Việc đầu tư cơ sở vật chất kiên cố hóa trường học được duy trì, các điều kiện đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng giáo dục ngày càng được tăng cường (toàn huyện hiện có 51 trường đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ phòng học kiên cố ở 3 bậc MN, TH, THCS đạt 96,5%, THPT đạt 100%.). Chất lượng giáo dục được đánh giá thực chất hơn; công tác xã hội hóa giáo dục đạt kết quả tốt. Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên được chú trọng, cơ bản đáp ứng tốt yêu cầu phát triển giáo dục - đào tạo của huyện.

Tổng số trẻ 3-4 tuổi đến lớp là 6.882.

 Năm 2015, Nhân Hòa và Phương Liễu là hai xã có phong trào giáo dục toàn diện; trường THPT Quế Võ 2 được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen.

2. Y tế - dân số - gia đình và trẻ em

* Y tế: Công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh được tăng cường, tỷ lệ miễn dịch cơ bản đạt trên 98%. Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được đầu tư, đảm bảo sử dụng hiệu quả. Đội ngũ cán bộ y tế từ huyện đến cơ sở thường xuyên được tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Số giường bệnh/1 vạn dân đạt 15 giường.

Công tác quản lý nhà nước về y dược tư nhân được tăng cường, tổ chức thống kê, rà soát, kiểm tra các cơ sở y dược tư nhân trên địa bàn; phối hợp thẩm định và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề cho các cơ sở y, dược tư nhân. Đảm bảo tốt hoạt động y tế dự phòng, dự báo tốt dịch bệnh, thường xuyên kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường.

Năm 2015 xây dựng 3 xã đạt tiêu chí Quốc gia về y tế xã là Cách Bi, Mộ Đạo, Hán Quảng.

* Công tác dân số gia đình và trẻ em: tiếp tục triển khai có hiệu quả, duy trì tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn huyện ở mức 1,08%.

Chương trình bảo trợ, chăm sóc trẻ em luôn được các cấp, các ngành quan tâm, đặc biệt là trẻ có hoàn cảnh khó khăn tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để trẻ em phát triển toàn diện.

Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 8%. Tổng số trẻ sinh ra trong năm là 2.997 tỷ lệ giới tính khi sinh là 122 nam/100 nữ.

3. Văn hoá thông tin - TDTT - Phát thanh

* Lĩnh vực Văn hóa - Thông tin:

Sự nghiệp văn hóa tiếp tục có bước phát triển, công tác tuyên truyền thông qua các hình thức: Tuyên truyền trực quan, lưu động, sân khấu hóa, nội dung tập trung tuyên truyền nhiệm vụ chính trị của địa phương, tuyên truyền cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn: 85 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam; 125 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 40 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Tuyên truyền Đại hội Đảng bộ huyện Quế Võ lần thứ XVIII, Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng, tổ chức thành công hội diễn ca múa nhạc huyện Quế Võ lần thứ 5. Tham gia hội thi tiếng hát quan họ đầu xuân tỉnh Bắc Ninh năm 2015 đạt giải nhất toàn đoàn.

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tiếp tục được triển khai sâu rộng.

Cổng thông tin điện tử của huyện hoạt động có hiệu quả, bước đầu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị đặt ra: Việc sử dụng thư điện tử công vụ đã đi vào ổn định, có nề nếp, ứng dựng công nghệ thông tin triển khai tích cực.

* Lĩnh vực Thể thao: tiếp tục có bước phát triển, thể thao quần chúng được duy trì, các câu lạc bộ văn hóa - TDTT trên địa bàn huyện ngày càng thu hút đông đảo thành viên và nhân dân tham gia. Thể thao thành tích được đầu tư đúng mức, các lớp: Vật, võ cổ truyền… được duy trì.

Đoàn vận động viên của huyện Quế Võ tham gia hoạt động thể dục thể thao do Tỉnh tổ chức đạt nhiều kết quả cao, trrong đó có 6 giải nhất, 10 giải nhì, 5 giải 3, 11 giải khuyến khích.

* Phát thanh: Các chương trình phát thanh có nhiều đổi mới, tin bài tuyên truyền luôn bám sát nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương, dự kiến sản xuất khoảng hơn 300 chương trình phát thanh, với 2.016 tin, bài; mở thêm nhiều chuyên mục mới.

4. Lao động việc làm và thực hiện các chính sách xã hội

Thực hiện kịp thời các chế độ, chính sách đối với gia đình chính sách, người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn và người nghèo ước thực hiện 38 lớp với 1.140 người; Giải quyết việc làm mới cho 2.910 lao động, đạt 100,3% so với cùng kỳ.

Tổ chức trao 17.430 suất quà của Chủ tịch nước, của tỉnh, của huyện cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo nhân dịp Tết nguyên đán Ất mùi và ngày Thương binh liệt sỹ 27/7 với tổng trị giá trên 4,4 tỷ đồng, đảm bảo 100% các hộ nghèo trong toàn huyện đều đươc tặng quà nhân dịp tết nguyên đán. Lập hồ sơ đề nghị và đã được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt nam anh hùng cho 51 Bà mẹ.

Chương trình giảm nghèo được đẩy mạnh, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3%; Lập danh sách đề nghị cấp thẻ BHYT cho các 3.997 đối tượng nghèo, 4.491 thẻ BHYT cho đối tượng cận nghèo trên địa bàn.

5. Kết quả thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới

Tổng số tiêu chí các xã đã đạt là 311 tiêu chí, bình quân là 15,5 tiêu chí /xã, tăng 75 tiêu chí so với năm 2014. Ngoài xã Phượng Mao đạt chuẩn Nông thôn mới năm 2014, năm 2015 có 3 xã Phương Liễu, Nhân Hoà, Việt Thống cơ bản đạt chuẩn Nông thôn mới./.

BBT

Thời tiết ngày 22/09/2017

Không lấy được dữ liệu từ server