Đảm bảo an ninh lương thực, góc nhìn từ Quế Võ

29/03/2019 10:52 Số lượt xem: 221

Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề an ninh lương thực trong chiến lược phát triển bền vững và bảo đảm an ninh trật tự ngay từ cơ sở, những năm qua, huyện Quế Võ đã tập trong cao công tác lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt các nội dung Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 23/12/2009 của Chính phủ về bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Huyện cũng đã xác định rõ an ninh lương thực là vấn đề trọng đại trước mắt cũng như lâu dài, từ đó có những giải pháp chỉ đạo, điều hành linh hoạt, hiệu quả, với mục tiêu giúp người nông dân nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống.

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, Quế Võ đã tích cực triển khai các Đề án của tỉnh về phát triển nông nghiệp, đồng thời ban hành Đề án chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện đến năm 2020, Quy hoạch phát triển nông nghiệp các xã, thị trấn đến năm 2020, kế hoạch ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, cùng các Đề án về thí điểm tổ chức sản xuất, tích tụ đất nông nghiệp thông qua hình thức thuê, góp ruộng, Đề án phát triển thương hiệu khoai tây Quế Võ, gạo tẻ thơm Quế Võ.

Theo thống kê, tổng diện tích đất canh tác toàn huyện là 7.700 ha, trong đó diện tích trồng lúa 6.900 ha, sản lượng bình quân qua các năm khoảng 90.000 tấn, đảm bảo tốt an ninh lương thực tại địa phương. Tuy nhiên do công tác quy hoạch mục tiêu sản xuất tăng vụ nhằm nâng cao hệ số sử dụng đất và giá trị/ ha canh tác nên diện tích gieo trồng đạt 17.500-17.793 ha qua các năm. Huyện cũng đã thực hiện xong công tác dồn điền đổi thửa, góp phần quan trọng vào việc hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Năm 2018, Quế Võ đã xây dựng được 83 vùng sản xuất tập trung sản xuất cùng 1 giống với quy mô tối thiểu từ 5 ha trở lên, chuyển đổi 90 ha đất bãi từ trồng ngô sang trồng chuối. Cây khoai tây được quy hoạch cả trong lĩnh vực sản xuất giống (khoai tậy vụ xuân) diện tích 250 ha và khoai tây thương phẩm (khoai tây vụ đông) 1.700 ha.

Các đồng chí Lãnh đạo tỉnh kiểm tra công tác SX nông nghiệp tại Quế Võ

Bên cạnh đó, Quế Võ đã quy hoạch và phát triển nuôi trồng thủy sản tập trung tại 4 vùng nuôi trồng chính với diện tích 1.012 ha. Vùng 1 bố trí tại các  xã Nhân Hoà,, Đại Xuân, Việt Thống, diện tích 205,5 ha, vùng 2 tại các xã Phù lương, Quế Tân, Bằng An, diện tích 140,8 ha, vùng 3 tại các xã Đức Long, Phù Lãng, Đức Long 149,4 ha, vùng 4 tại các xã Yên Giả, Chi Lăng, Hán Quảng, diện tích 272,8 ha làm hạt nhân để tiếp tục mở rộng. Chương trình nuôi cá lồng trên sông Đuống được đẩy mạnh đảm bảo theo quy hoạch, với 210 lồng cá. Năm 2018 sản lượng thủy sản toàn huyện đạt 6.880 tấn, tăng tăng 100 tấn so với năm 2017.

Lĩnh vực chăn nuôi, toàn huyện có trên 1.000 hộ chăn nuôi gia trại, trang trại và 12 vùng chăn nuôi tập trung. Ngoài ra còn có 10 cơ sở chăn nuôi công nghiệp ứng dụng công nghệ cao thay thế chăn nuôi bán công nghiệp, như xây dựng chuồng kín, có máng ăn, uống tự động, hệ thống làm mát, kiểm soát dịch bệnh, gồm 1 cơ sở chăn nuôi bò công nghiệp tại xã Phương Liễu quy mô trên 300 con/lứa, 2 hộ chăn nuôi thỏ Ngọc trên 500 con/lứa tại xã Đức Long, Châu Phong, 2 hộ nuôi chim bồ câu Pháp quy mô 2.500 cặp, 5 hộ chăn lợn công nghiệp. Ngoài ra còn có 2 hộ chăn nuôi gà sinh sản trên 1.000 con, 2 cơ sở liên doanh với tập đoàn DABACO Việt Nam sản xuất lợn giống, lợn thương phẩm. Tổng số đầu lợn xuất chuồng trong năm là 13.000 con, trọng lượng đạt 1.560 tấn chiếm 12 % tổng sản lượng thịt hơi toàn huyện.

Việc tăng cường cơ giới hóa giúp tăng năng suất lao động, giảm chi phí cho người nông dân

Yếu tố quan trọng góp phần thực hiện thành công chiến lược đảm bảo an ninh lương thực ở Quế Võ là việc tăng cường ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất, giữ nhịp độ phát triển hài hòa giữa trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản. Toàn huyện đã có khoảng 500 máy làm đất các loại, 500 máy gặt đập liên hoàn, 45  kho lạnh, đảm bảo thực hiện chủ động trong công tác làm đất, thu hoạch và bảo quản sản phẩm nông nghiệp sau thu hoạch.

Nhiều giống cây trồng, vật nuôi mới được chú trọng đưa vào sản xuất phù hợp với điều kiện canh tác ở từng vụ, từng địa phương. Đặc biệt là sự chuyển đổi giống khoai tây chủ lực vụ đông bằng giống Marabel có năng suất, chất lượng cao, được thị trường ưa chuộng. Đàn bò, lợn được lai tạo cho năng suất và chất lượng thịt cao hơn (95% đàn bò được Sin hóa, Zebu hóa, 100 % đàn lợn là ¾ máu ngoại). Đàn gia cầm được nuôi bằng các giống mới như ngan Pháp, gà, vịt siêu trứng, chim bồ câu... Một số giống cá mới được đưa vào sản xuất như rô phi đơn tính, cá diêu hồng, cá lăng...

Các kỹ thuật canh tác mới trong gieo cấy lúa như gieo sạ, mạ khay, mạ ném, quản lý dịch hại tổng hợp, VietGAP trên lúa... được thực hiện góp phần tăng năng suất lao động, năng suất và chất lượng cây trồng. Huyện đã triển khai sản xuất lúa liên kết với tiêu thụ ứng dụng công nghệ 4.0, phun thuốc trừ sâu bằng máy bay không người lái tại xã Ngọc Xá, phòng trừ dịch hại tổng hợp bằng bằng công nghệ IPM tổng hợp thay thế phương pháp phòng trừ sâu bệnh truyền thống gây ô nhiễm môi trường, hiệu quả thấp. Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ cao để sản xuất rau an toàn gắn với truy xuất nguồn gốc, dự án ứng dụng công nghệ khí canh để sản xuất giống khoai tây sạch bệnh tại Bồng Lai. Tiếp tục tham mưu xây dựng dự án ứng dụng khoa học, công nghệ để sơ chế, phân loại bảo quản khoai tây thương phẩm bằng công nghệ kiểm soát môi trường, công suất 1.500 tấn/năm nhằm đảm bảo công tác sơ chế, bảo quản nông sản hàng hóa, đặc biệt trong giai đoạn chính vụ. Đồng thời, thực hiện các mô hình, dự án sản xuất khảo nghiệm, sản xuất thử để lựa chọn các giống cây trồng, vật nuôi mới có chất lượng, giá trị cao, có khả năng chống chịu với sâu bệnh vào sản xuất như mô hình trồng dưa lưới, dưa kim cô nương vụ xuân - hè cho năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao hơn.

Việc thăm đồng, chỉ đạo sản xuất luôn được lãnh đạo huyện Quế Võ quan tâm

Thời gian tới, Quế Võ xác định tiếp tục khuyến khích việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất. Duy trì và mở rộng các vùng sản xuất cây hoa, rau màu, lúa năng suất cao, chất lượng cao, chăn nuôi thủy sản, gia súc, gia cầm,... có giá trị kinh tế cao. Chú trọng chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu giống, cây trồng, cơ cấu mùa vụ hợp lý trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ. Tạo điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế trang trại, nuôi trồng thủy sản gắn với bảo về sinh thái, cảnh quan môi trường. Tham mưu đề xuất cấp thẩm quyền tăng cường hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nghiên cứu, tạo ra các sản phẩm công nghệ cao ứng dựng vào thực tiễn sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp như hỗ trợ mặt bằng sản xuất, hỗ trợ kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng, miễn giảm thuế... Khuyến khích xây dựng một số vùng, mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao như vùng sản xuất rau theo hướng an toàn, vùng sản xuất lúa hàng hóa, chất lượng theo hướng tiêu chuyển VietGAP; vùng trồng hoa, cây cảnh, mở rộng diện tích nuôi cá thâm canh trong ao và phát triển trang trại theo tiêu chí mới. Đồng thời khuyến khích tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tích tụ ruộng đất phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

D.C